CÁC BIỂU HIỆN CỦA CAN VÀ MỘC KHÍ

CÁC BIỂU HIỆN CỦA CAN VÀ MỘC KHÍ
NỮA THÂN BÊN TRÁI THUỘC CAN
Mọi triệu chứng xảy ra ở phần bên trái của cơ thể như:
– Đau đầu bên trái,
– Sình bụng bên trái,
– Bại liệt bên trái.
Đều là can chứng.
Theo Nội Kinh: Bên trái thuộc Can.
Điều quan trọng nhất ở đây là chúng ta đừng quên nhầm lẫn giữa Can khí (Energie Bois) với Gan (Le Foie) của cơ thể học, theo Y học,
– theo Y học Đông phương Can khí là chức năng (Fonction)
– còn Tây y Gan là bộ phận cơ quan (oragane),
Do đó Can và Gan hoàn toàn không thể xem là một, trên thực tế Gan chỉ là một trong những bộ phận liên hệ mật thiết của Can mà thôi.
Hiểu như vậy chúng ta mới thể đánh giá được hết cái độc đáo của Y học phương Đông .
TÍNH ĐỘNG (Dinamique), Sự Vận động (Action- Mouvement):
Nhìn vào đồ hình thái cực, chúng ta nhận thấy từ thái âm tỉnh lặng chuyển sang Thiếu dương khởi động.
– Do vậy tính động, sự vận động là tính chất của Can Mộc khí.
Nội kinh có câu: “Can sinh Cân”
Can ở đây là mộc khí, vì nếu chỉ nói Can là không đủ vì ngoài ra còn có Tâm Phế Thận đều có bắp thịt, gân cơ, thần kinh đều gây vận động cả.
– Do đó câu kinh” Can sinh Cân” có nghiã là Mộc khí chủ về sự vận động.
Do vậy khi có những bệnh liên hệ đến thần kinh, gân cơ, bắp thịt thì phải nghĩ đến ngay tình trạng của Mộc khí.
Thiên lục tiết tạng tương luận sách Tố vân nói: “Can là gốc của dự mõi mệt… đầy đủ ra ở gân”.
– “Đàn ông đến 56 tuổi thì Can MỘc khí suy, gân không cử động mạnh được”.
Do đều nói rỏ Can với gân và sự vận động của gân có sẵn một mối quan hệ với nhau.
Thí dụ:
– Động kinh,
– Co giật,
– Co thắt nhu động ruột,
– Sản kinh,
– Parkinson …,
Các bộ phận trong cơ thể co giật, nhu động thái quá đều là những dấu hiệu của Can Mộc khí vượng.
– Bắp thịt suy yếu,
– Bại suội,
– Nhu động cuả các bộ phận trong cơ thể trở nên yếu đuối đều là những dấu hiệu của Can Mộc khí suy.
Ngoài ra có những biểu hiện cục bộ, tùy theo từng khu vực chúng ta nghĩ đến những cơ quan liên hệ bị tổn thương.
Can Mộc khí vượng:
– Đau giật nữa đầu bên trái,
– Co giật tay chân bên trái,
– Đau quặn phần bụng bên trái.
Can Mộc khí suy:
– Liệt dây thần kinh ngoại biên bên trái,
– Bại liệt tay chân bên trái,
– Đau mõi thường xuyên nữa người bên trái,
– Sờ phần bụng bên trái (thường kèm táo bón, nhu động ruột yếu).
Phế Mộc khí vượng:
– Đau nhức nữa người bên phải, thỉnh thoảng các cơ bắp cánh tay, chân co giật.
– Đau giật nữa đầu bên phải.
– Ho suyễn (co thắt khí quản).
– Co thắt nhiều nhu động ruột vùng kết tràng lên.
Phế Mộc khí suy:
– Bại liệt nữa thân bên phải.
– Liệt dây thần kinh ngoại biên bên phải.
– Nở khí quản.
– Bón về nhu động ruột bên phải bị suy yếu.
Thận Mộc khí vượng:
– Co giật vùng bàng quang (Có khi viêm bàng quang, tiết niệu).
– Bụng dưới quặng đau, rêm (Có khi nhảy mũi mạnh cũng đau và loan tỏa đến vùng bùi dái).
– Hai chân co giật.
Thận Mộc khí suy:
– Lạnh bụng dưới, lạnh loan tỏa đến vùng bùi dái, đi tiểu nhiều, lắt nhắc nhưng ít (u xơ tiền liệt tuyến).
– Liệt yếu hai chân, hai chân không muốn cử động.
Tâm Mộc khí vượng:
– Tim đập nhanh (loạn nhịp- basedow).
– Mạch máu nổi nhiều ở tay.
– Cao huyết áp.
– Viêm lưỡi, đỏ lưỡi.
Tâm Mộc khí suy:
– Tim đập chậm, yếu.
– Mạch máu thiếu nhu động, thỉnh thoảng tê tay hoặc tê chân.
– Huyết áp thấp.
– Bại liệt lưỡi ( thường do sau tai biến mạch máu não).
Tỳ mộc khí vượng:
– Ăn nhiều (tiểu đường).
– Đau thắt dạ dày, ợ chua. (thừa acid).
– Loét dạ dày ( có cảm giác rát bỏng).
Tỳ Mộc khí suy:
– Biếng ăn.
– Tiêu chảy thường xuyên ( viêm đại tràng mãn tính).
BS Dư Quang Châu
Chủ tịch Chi hội Giáo dục Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng TCLT
Viện trưởng Viện Bấm huyệt TCLT
(Còn tiếp)