NHỮNG NÉT CHÍNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ ĐỘNG – TĨNH MẠCH

Động mạch là mạch máu thuộc hệ tuần hoàn trong cơ thể, dẫn máu từ tim đến các cơ quan.
– Máu trong động mạch có lượng ô xy cao, ngoại trừ ở động mạch phổi và động mạch rốn.
Hệ động mạch có tỉ lệ huyết áp cao hơn trong hệ tuần hoàn.
Áp lực máu thay đổi từ:
Cực đại trong quá trình tim co lại, gọi là áp lực tâm thu
* Huyết áp tâm thu dao động từ 90 đến 140 mmHg
Cực tiểu-áp lực tâm trương-khi tim giãn và máu dồn về tim.
* Huyết áp tâm trương dao động từ 60 đến 90 mmHg
Sự thay đổi áp lực trong động mạch tạo ra mạch động và có thể cảm nhận được nhịp đập này và nó phản ánh sự hoạt động của tim.
Động mạch mang máu từ tim đến các tế bào, ngoại trừ động mạch phổi, nó mang máu đến phổi để ô xy hóa.
        
– Còn lại các động mạch mang máu giàu ô xy đến các cơ quan và tế bào cần ô xy.
Hệ tĩnh mạch bắt nguồn từ mao mạch về đến tim, tổng thiết diện của cả hệ tĩnh mạch lớn hơn hệ động mạch. (Mỗi động mạch lớn thường có hai tĩnh mạch đi kèm).
– Ở một thời điểm nào đó, khoảng 65% thể tích máu toàn bộ được chứa trong tĩnh mạch so với 20% trong hệ thống động mạch.
Kết cấu ống tĩnh mạch có nhiều vòng, lớp ngoài cùng
chủ yếu cấu tạo bằng colagen, không có các cơ như động mạch, nên các ống này có thể xẹp xuống khi dung lượng máu thấp và phồng lên khi ứ máu.
Ðộng lực máu trong tuần hoàn tĩnh mạch và các yếu tố giúp máu trở về tim:
– Tốc độ máu trong tĩnh mạch lớn trung bình 10cm/ giây, chỉ bằng 1/4 ở động mạch chủ, còn ở tĩnh mạch nhỏ chỉ khoảng 0,6-1,4 cm/s, bằng 1/10 ở động mạch nhỏ.
Lưu lượng tĩnh mạch tăng hay giảm tùy theo sự hoạt động hay nghỉ của tổ chức.
Do máu trong tĩnh mạch có nhiều chất thải, nên đặc hơn, độ nhớt cao hơn so với máu ở động mạch.
– Trong điều kiện ấy mà áp suất hút của tim khá thấp, lại ngược chiều trọng trường, vậy yếu tố nào đã đưa máu “chảy ngược” từ chân về tim?
YẾU TỐ HUYẾT ÁP DO TIM ĐẨY VÀ HÚT
Huyết áp giảm dần từ động mạch qua mao mạch, đến tĩnh mạch huyết áp giảm rất nhiều, nên vai trò huyết áp đưa “máu bẩn” trở về tim chắc chắn không phải như ở động mạch.
– Trong thời kỳ tâm thất thu, áp suất tâm nhĩ giảm xuống đột ngột do van nhĩ-thất bị hạ xuống về phía mõm tim làm buồng nhĩ giãn rộng, tác dụng này làm hút máu từ tĩnh mạch trở về tâm nhĩ, nhưng lực hút này cũng chỉ cỡ dưới 15 mmHg.
CỬ ĐỘNG HÔ HẤP
Khi hít vào, cơ hoành hạ thấp xuống, các tạng trong bụng bị ép, áp suất trong bụng tăng lên và ép máu về tim.
– Đồng thời, khi hít vào, áp suất trong lồng ngực càng âm hơn (từ -2,5 mmHg đến –6 mmHg), áp suất âm này khiến cho áp suất tĩnh mạch trung ương dao động từ 6 mmHg khi thở ra đến gần 2 mmHg khi hít vào.
– Sự giảm áp suất này làm tăng lượng máu trở về tim phải.
Điều này thấy rõ: thở sâu sẽ tăng áp lực hút máu về tim.
SỨC CO CƠ VÂN
Khi cử động, sự co của các cơ xung quanh, ép vào tĩnh mạch, phối hợp với các van khiến cho máu chảy về tim.
– Do đó sự vận cơ giúp máu về tim tốt hơn.
VAN TĨNH MẠCH
Trên đường đi của hệ tĩnh mạch có các van tĩnh mạch, có chức năng giống van tim (khoảng 4-5cm trên các ống tĩnh mạch có 1 van – đó là những nếp lớn trong thành tĩnh mạch, chỉ cho phép máu chảy một chiều về tim).
– Các van chủ yếu ở trong các tĩnh mạch chi. Khi cử động, sự co của các cơ xung quanh ép vào tĩnh mạch, phối hợp với các van khiến cho máu chảy về tim.
Do đó sự vận cơ giúp máu về tim tốt hơn. Khi các van suy yếu, sẽ ứ máu ở tĩnh mạch gây phù.
NHIỆT ĐỘ:
khi trời rét, nhiệt độ giảm làm co tĩnh mạch, nhiệt độ cao tĩnh mạch giãn ra (do đó chỗ nào giãn tĩnh mạch nên tránh tăng nhiệt).
BS Dư Quang Châu
Chủ tịch Chi hội Giáo dục Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng TCLT
Viện trưởng Viện Bấm huyệt TCLT
(Còn tiếp)