CHUYỆN KỂ VỀ BÀ HUỲNH THỊ LỊCH

🔰 THẬP CHỈ LIÊN TÂM LIỆU PHÁP Y MAO MẠCH
THÔNG MAO MẠCH – SẠCH TĨNH MẠCH
CHỐNG XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH

Tác giả: Bác sĩ Dư Quang Châu
Viện trưởng Viện Bấm huyệt Thập Chỉ Liên Tâm
Chủ tịch Chi hội Giáo dục Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng TCLT

Nhà xuất bản Hồng Đức tháng 8/2018

📌 CHƯƠNG 1:

LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC

4. CHUYỆN KỂ VỀ BÀ HUỲNH THỊ LỊCH

Có thể nói, bà Huỳnh Thị Lịch là “thần y” bấm huyệt bí ẩn nhất Việt Nam.

Bà để lại di sản kiến thức bấm huyệt đáng ngưỡng mộ, nhưng gần như chưa được nghiên cứu, áp dụng môn bấm huyệt này rộng rãi để trị bệnh, nâng cao sức khỏe cho người dân.

Cả đời bà âm thầm chữa bệnh, truyền dạy cho các học trò, và đặc biệt không tiếp xúc với giới truyền thông, nên thân thế, sự nghiệp của bà rất bí ẩn.

Học trò của bà chủ yếu là những người thiên về thực hành, lại không quảng bá rộng rãi, nên tưởng như môn bấm huyệt mà bà gọi là Thập Thủ Đạo đã biến mất.

Thuở sinh thời, khi bắt đầu chữa bệnh, bà Lịch bắt mạch, nghe ngóng, rồi đọc ra đủ thứ bệnh trong người bệnh nhân – những thứ bệnh mà phải chiếu chụp, siêu âm, xét nghiệm mới biết được.

Nhiều người cũng cảm thấy khá ngạc nhiên.

Bà Lịch một tay khóa ở cổ tay, một tay bấm nhoay nhoáy, lúc nhanh, lúc chậm như thể gẩy đàn. Hết bấm tay, lại bấm chân, vai, gáy.

Bà bấm đến đâu, người được bấm có cảm giác như máu tràn đến đó, gân cốt căng lên.

Họ kể lại: không tin nổi một cụ bà ngoài 80, mà đôi tay vẫn cứng như thép, làm việc không biết mệt mỏi.Bà Lịch qua đời năm 2007, khi tròn 93 tuổi.

Lương y Huỳnh Thị Lịch luôn mong có những học trò tâm huyết để học hỏi, thừa kế phương pháp Thập Thủ Đạo này để trị bệnh cứu người.

Bà có 4 yêu cầu chủ yếu đối với các y sinh:

1. Thương yêu vô hạn đối với bệnh nhân, đặc biệt là đối với trẻ em và những người tật nguyền, khốn khổ.

2. Say sưa tìm tòi trong nghề nghiệp.

3. Giữ cho mình một tâm hồn, đạo đức trong sạch, một sức khoẻ tốt, không làm tiền bệnh nhân.

4. Chú ý rèn luyện những ngón tay bấm huyệt, không phải bằng sức mạnh ngón tay mà với tất cả nội khí của toàn thân mình…

Mười hai năm lưu lạc ở nước ngoài như Pháp, Pakistan, Nhật, Ấn Độ… bà cũng đã học hỏi được biết bao điều. Lớn lên trong một gia đình có 7 đời làm nghề y, cộng với một tấm lòng, năng khiếu trời cho, cha mẹ sinh, bà vẫn không nguôi ý định học hỏi, trưởng thành trong cái nghiệp trị bệnh cứu người.

Khó ai có thể nghĩ cô bé Thanh làm con ở ngày ấy lại trở thành bà Sáu Lịch, bà Thầy bấm, bà lang Hàng Xanh
nổi tiếng trong dân đang bấm huyệt gian sau này. Bà đã học hỏi tất cả những gì có thể, thậm chí pha trộn kiến thức, rồi bằng thực tế cứu người, đúc rút dần dần.

Bà tâm sự chân thành và khiêm nhường: Tôi đâu có được học. Tôi chỉ là một người giúp việc, hoàn toàn học lỏm. Tôi cũng không ngờ tôi chữa được thành công.

Nhưng thực tế bà đã thành công và thành công rất lớn.

Như chúng ta đã biết ngoài tấm lòng tận tụy thương yêu vô hạn, vô tư của bà đối với bệnh nhân bà còn rất yêu nghề với lòng say sưa, bà thường nói: “tôi trăn trở suốt đêm không ngủ vì chữa mãi bệnh nhân ấy không khỏi”…

Từ câu chuyện cuộc đời đầy gian truân và những câu nói khiêm nhường của lương y Huỳnh Thị Lịch, có thể hình dung vài nhận xét sơ bộ: • Dù ít chữ, nhưng bà có năng
khiếu bẩm sinh của một người sinh ra trong một gia đình nhiều đời làm nghề y, do vậy đã tiếp thu rất nhanh
các kiến thức của những người thầy người Việt, người Pháp, người Pakistan.

• Kiến thức của bà gồm Y võ Bình Định (Trung hoa – Việt Nam), Y học Pháp và Y học cổ truyền Ấn Độ (Ayurvedic).

Bà đã kết nối được 3 trường phái y học lớn và tìm ra con đường riêng cho mình.

• Với cái Tâm của một “bà Phật hóa thân”, lương y Huỳnh Thị Lịch đã trăn trở ngày đêm để trị bệnh cứu người, nhờ đó bà hoàn thiện dần giải pháp Thập Thủ Đạo, có phần khác biệt so với nguyên bản Ayurvedic do sư phụ Pakistan gốc Ấn truyền đạt.

Trong phần sau sẽ lý giải thêm về các điểm khác biệt do bà Huỳnh Thị Lịch tạo nên.

Hồi còn sống, cựu Bộ trưởng Bộ Y tế, Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, đã viết thư gửi Lương y Huỳnh Thị Lịch với những lời cảm kích:

“TP.HCM 29/2/1992

Cô Sáu Lịch,

Đọc bài thơ của Cô rồi, tôi rất phục Cô và thương Cô vì trong lòng Cô còn vương vấn chút khổ đau trần tục, chưa được thanh thoát như Phật Thích Ca trên toà sen.

Phục Cô ở chỗ: Có lòng tự hào dân tộc, nhân từ, đạo đức, lo cho nhân dân, lấy chân lý làm vinh, làm lương y với đôi tay thần luyện, với lòng thương bao la không biên giới, cao như Hy mã lạp sơn, như biển đông xanh mát, có đạo Phật từ bi bác ái.

Bao nhiêu đức tính ấy đã đủ cho một người tự an ủi mình trong cuộc đời gian khổ để sống hạnh phúc!

Tôi vui với bản tình ca 
Cứu người khỏi bệnh mới là đẹp cao

Nhưng tại sao có người kỳ thị thua hờn, lại có người muốn hỏi về đời sống của người lương y thần hiệu?

Vì một lẽ rất đơn giản! Vì Cô đã nổi danh chữa bệnh mà quần chúng muốn hiểu rõ đời cô như của đức Phật. Đó là cái khổ của những người đã nổi tiếng!

Quần chúng muốn đọc một cuốn sách về đời Cô như một tiểu thuyết dài thật dài mới thoả mãn được nhu cầu tình cảm của quần chúng. Đi Pháp, Nhật Bản, Ấn Độ, Pakistan… ở mỗi nơi có gì lạ, trong óc suy nghĩ ra sao, học lỏm cách nào?

Sự kết tinh trong óc để tạo ra cách bấm huyệt… Làm sao trình bày cho rõ như trong một khối thuỷ tinh trong suốt.

Tôi hết lòng thương Cô, phân tích rõ ngọn ngành để cô bước lên đài vinh quang mà quần chúng mong đợi.

Rồi phải tập hợp học trò cũ lại, viết lại kỹ thuật khám bệnh tài tình, học trò chưa hiểu rõ, lựa chọn người tiến bộ để đào tạo huấn luyện viên đặc biệt sẽ nối nghiệp Cô…

Nguyễn Văn Hưởng”

– – – – –

Nhân lá thư cụ Nguyễn Văn Hưởng gửi bà Huỳnh Thị Lịch, cũng nên nói thêm về vị cựu Bộ trưởng bộ Y tế đặc biệt quan tâm phương pháp Huỳnh Thị Lịch.

Năm 1927, ông học Trường Đại học Y khoa Hà Nội. Học xong 4 năm ở Hà Nội, ông lại học tiếp 2 năm ở Paris và bảo vệ luận án tốt nghiệp năm 1932.

Năm 1933, ông về nước và làm việc tại Viện Pasteur Sài Gòn trong 5 năm, được xem là một trí thức lớn ở Sài Gòn
(nhiều bác sĩ nổi tiếng đánh giá ông chỉ sau Phạm Ngọc Thạch, và chính ông kế nhiệm chức vụ Bộ trưởng Y tế từ Phạm Ngọc Thạch vào 1969).

Năm 1939, ông mở phòng mạch, phòng xét nghiệm tại số nhà 224 đường Cống Quỳnh ngày nay – đây chính là phòng khám bệnh tư có kèm phòng xét nghiệm đầu tiên ở Sài Gòn.

Tháng 3 năm 1969, ông chính thức trở thành Bộ trưởng Bộ Y tế Việt Nam.

Ông bị tai biến mạch máu não 1970, nằm liệt giường, nhưng sau 5 năm kiên trì tập luyện, ông đã khỏi và trở lại làm việc, đồng thời viết sách “Phương pháp Dưỡng sinh” với 72 động tác cơ bản và đã được tái bản ít nhất 12 lần.

Ông viết cuốn “Phương pháp dưỡng sinh” từ tác phẩm “Vệ sinh yếu huyết” của Lê Hữu Trác kết hợp với kiến thức hiện đại về sinh lý học.

Đời ông cố gắng làm cho mọi người theo khẩu hiệu cách mạng của Tuệ Tĩnh “Nam dược trị Nam nhân” và tin vào khả năng chống bệnh tật bằng ý chí và nghị lực của mình dựa trên một số hiểu biết cơ bản.

Nhiều người xem ông là tấm gương lớn về luyện tập thành công sau tai biến não, và cuốn sách của ông được coi là nền tảng đầu tiên cho ngành dưỡng sinh Việt Nam. Về công việc, ông là đại biểu Quốc hội khóa I, Phó Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội các khoá II (1960-1964) và khóa III (1964-1971, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II, III (1960-1971).

Ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996).

Khi bà Lịch đã nổi tiếng lừng lẫy khắp Việt Nam chữa bệnh như thần, bà xin phép Bộ Y tế đăng ký chính thức Thập Thủ Đạo như một phương pháp chữa trị chính thống thì không được công nhận vì lý do Thập Thủ Đạo chưa đưa ra được cơ sở khoa học.

Bà Lịch đau khổ đến mức tuyệt vọng.

Vị bác sĩ, nguyên bộ trưởng bộ Y tế thấu hiểu nỗi lòng đã viết lá thư ở trên động viên tinh thần bà.