LIỆU PHÁP BẤM HUYỆT CỔ TRUYỀN ẤN ĐỘ (AYURVEDIC REFLEXOLOGY)

📌 2. LIỆU PHÁP BẤM HUYỆT CỔ TRUYỀN ẤN ĐỘ
(AYURVEDIC REFLEXOLOGY)

🔰 THẬP CHỈ LIÊN TÂM LIỆU PHÁP Y MAO MẠCH
THÔNG MAO MẠCH – SẠCH TĨNH MẠCH
CHỐNG XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH

Tác giả: Bác sĩ Dư Quang Châu
Viện trưởng Viện Bấm huyệt Thập Chỉ Liên Tâm
Chủ tịch Chi hội Giáo dục Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng TCLT

Nhà xuất bản Hồng Đức tháng 8/2018
– – – – – – – – – –

📌 CHƯƠNG 1:

LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC

III. THẬP THỦ ĐẠO VÀ Y MAO MẠCH Ở NƯỚC NGOÀI

2. LIỆU PHÁP BẤM HUYỆT CỔ TRUYỀN ẤN ĐỘ
(AYURVEDIC REFLEXOLOGY)

Tại Ấn Độ, một quốc gia có lịch sử phần lớn gắn kết với các tôn giáo, 5.000 năm trước người ta đã nghĩ các cơ quan trọng con người tượng trưng cho sự thống nhất của toàn bộ vũ trụ.

Ayurveda là hệ thống chăm sóc sức khỏe cổ truyền của Ấn Độ có từ lâu đời, nhưng các y văn về Ayurveda hình thành rất chậm (khoảng giữa 400 trước Công nguyên-BD, đến 200 sau Công nguyênAD).

Có lẽ bởi vì ngôn ngữ của các tài liệu là tiếng Phạn, một ngôn ngữ không thông dụng trong giao tiếp hàng ngày ở Ấn Độ, nên nhiều đóng góp lớn của Ayurveda vẫn không được công nhận trong các tài liệu liên quan đến lịch sử của y học.

Trong số đó, việc phát hiện ra lưu thông máu đã được đưa lên như một việc quan trọng nhất.

Thực tế ở châu Âu, vấn đề tuần hoàn máu có sự kiện chấn động vào năm 1628, khi Wiliam Harvey công bố công trình nghiên cứu với nhan đề “Hoạt động của tim và máu động vật”.

Cuốn sách chỉ dày 71 trang nhưng đã giáng một đòn mạnh lên những tư tưởng lỗi thời hàng thế kỉ. Nhưng cũng vì vậy mà Harvey nhận không ít sự phản đối cũng như chế giễu của những nhà khoa học khác.

Viện trưởng Viện đại học Paris phản đối ngay “Việc phát hiện ra tuần hoàn máu không chỉ là một điều sai trái, không thể có được, không thể hiểu được, vô ích đối với y học mà thậm chí còn có hại cho đời sống con người”.

Ở phần trên đã nói lý thuyết Zone Therapy của W.H. Fitzerald công bố năm 1917.

Thật ra, cuốn sách đầu tiên trong lĩnh vực này được đưa ra vào năm 1582 bởi hai bác sĩ châu Âu Dr.Adamus và Dr. A’tatis.

Điều này cho phép nghĩ rằng tại thời điểm này, nhiều người châu Âu đã sử dụng một số hình thức trị liệu bấm huyệt.

Lý thuyết về “phản xạ có điều kiện” được nhà bác học Nga I. Pavlov (1849-1936) nêu ra vào 1883, nhưng mãi đến 1904 ông mới nhận được giải Nobel (trong các sách giáo khoa sinh học đều mô tả phát minh của I. Pavlov).

Như vậy, có thể W. H. Fitzerald thừa hưởng những nghiên cứu của W. Harvay, I. Pavlov và các kinh nghiệm của Ayurveda ở Ấn độ.

Khi người Anh chiếm được Ấn Độ, những phát kiến của Harvay, Fitzerald… cũng góp phần làm sáng tỏ các bí quyết của Ayurveda về lưu thông máu (phải nói thêm: Auyrveda có 8 chuyên ngành lớn, trong đó lưu thông máu chỉ là một nhánh nhỏ thuộc nhóm nội khoa).

Quan niệm vận hành hệ tim mạch ở Ayurveda

Trong y văn Ayurveda, tim và các mạch gắn liền với nó đã được mô tả để vận chuyển bốn thực thể quan trọng sau đây:

• “Rasa” (thường dịch là “dưỡng trấp”), các chất lỏng dinh dưỡng nuôi dưỡng phần còn lại của các mô.

• “Rakta” các phần màu đỏ là rất cần thiết cho sự sống.

• “Ojas” một phần nhỏ màu trắng, các chức năng của chúng gắn liền với khả năng miễn dịch.

• “Prana” một phần nhỏ mà có nguồn gốc thông qua các hành động của hô hấp. Do đó, cái ngày nay được biết như là “máu” nên bao gồm tất cả các thành phần, do đó cần phải cẩn thận khi dịch các thuật ngữ như Rasa, Rakta, Ojas, và Prana.

Đây có lẽ là một trong những lý do quan trọng cho một số trong những đóng góp quan trọng của Ayurveda đã không được chú ý.

Tương tự, Ayurveda giải thích rằng “āhāra” (thực phẩm), sau khi trải qua quá trình tiêu hóa hoàn chỉnh, được chuyển đổi thành các chất lỏng dinh dưỡng gọi là Rasa và sau đó Rasa này được chuyển đổi thành Rakta trong “Yakrit” (gan) và “Pliha” (lá lách).

Sau đó, Rakta đi vào trái tim. Nguồn gốc của Prana thông qua các hành động hô hấp sau Rakta này. Sau đó Rakta được chuyển thành “Mamsa” (thịt) và các mô khác của cơ thể.

Trên cơ sở này, các học giả thường dịch Rasa là dưỡng trấp.

Tương tự như vậy, Pneuma và Prana cũng có một sự tương đồng rất chặt chẽ; tuy nhiên, thuật ngữ “Prana” có ý nghĩa theo ngữ cảnh khác nhau là “Sức khỏe”, chứ không phải chỉ đơn giản là “Hơi thở”.

(Còn tiếp) ➡️