MỘNG TINH – TẢO TINH – LIỆT DƯƠNG – LIỆT ÂM LÀ BIỂU HIỆN CỦA THẬN THỦY KHÍ (Phần 9)

 MỘNG TINH – TẢO TINH – LIỆT DƯƠNG – LIỆT ÂM LÀ BIỂU HIỆN CỦA THẬN THỦY KHÍ

Thời gian và không gian đều có nhiều chất nước (thủy dịch) nhất là phương Bắc, mùa Đông, càng về khuya Thái Âm thủy dịch càng nhiều. Trong cơ thể con người, biểu hiện của Thận thủy khí chính là MỘNG TINH – TẢO TINH – LIỆT DƯƠNG – LIỆT ÂM

THẬN KHÍ VÀ TÌNH DỤC: Sức mạnh yếu tố tình dục là một yếu tố cần thiết, một quyền lực kỳ diệu quyết định hạnh phúc gia đình. Phần nhiều những cuộc khủng hoảng gia đình đều do sự suy yếu quyền lực tình dục, một biểu hiện của Thận thủy khí suy.

 

Người Thận thủy khí mạnh mẽ thì không bị tình dục quấy nhiễu, nhưng khi hành sự thì lại hoàn tất một cách như ý.

Trái lại một người Thận thủy khí suy, Tâm hỏa khí vượng luôn luôn bị tình dục ám ảnh nhưng lại thất bại trong khi hành sự để rồi sinh ra nhiều tật xấu làm mất cả phẩm cách.

Vì quá buông thả tình dục xác thịt, người ta bị Thận thủy khí suy. Vì Thận thủy khí suy người ta lại tán trợ kích động tình dục xác thịt.

Trong phép dưỡng sinh, Thận thủy khí là gốc của sự sống cần phải luôn luôn bồi bổ và nhất là phải tiết dục để khỏi phí phạm năng lực quan trọng này.

Riêng về phái nữ, Thận thủy khí suy gây ra các chứng sau:
– Ra huyết trắng với chất nhờn và trong.
– Kinh nguyệt kéo dài nhiều ngày.
– Trước và sau khi có kinh bụng dưới lạnh và đau thắt.
– Chu kỳ kinh nguyệt không đều thường dài ra.

Trong trường hợp Thận thủy khí suy trầm trọng bệnh nhân bị mất kinh nguyệt đó là trường hợp của những người bị hư lao toàn diện.

MỘNG TINH: xuất tinh trong cơn mộng giao.
Chứng này không hẳn do Thận thủy khí suy mà thường là do Tâm hỏa khí vượng. Ở những người khỏe mạnh thường cũng có chứng này khi bị kích dục nhưng không hành sự được. Chúng ta có thể nói đây là một trường hợp giao hợp thiếu đối tượng. Nhưng nếu mộng tinh quá nhiều lần, tinh dịch sẽ hao mòn đưa đến tổng trạng suy nhược trong đó có Thận thủy khí suy khiến bệnh trở thành di tinh.

Phương thang: Dưỡng tâm thang
– Hoàng kỳ 20gr
– Phục thần 12gr
– Đương qui đầu 12gr
– Bán hạ 12gr
– Bá tử nhân 06gr
– Nhục quế 06gr
– Chích thảo 12gr
– Nhân sâm 12gr
– Phục linh 12gr
– Xuyên khung 12gr
– Toan táo nhân 16gr
– Viễn chí 12hr
– Ngũ vị tử 08gr
– Gừng sống 3 lát,
– Đại táo 3 quả.
Sắc uống.

TẢO TINH: xuất tinh quá sớm trong khi giao hợp.
Chứng này thường do Thận thuỷ khí suy, nhưng cũng nhiều khi do Tâm hỏa quá vượng phản khắc mạnh thận thủy khí khiến sớm xuất tinh. Đó là trường hợp của những người Thận thủy khí bình thường nhưng Tâm hỏa bị kích dục.

Tảo tiết” và “di tinh” không giống như nhau: Di tinh là xuất tinh khi không giao hợp còn tảo tiết là mới bắt đầu giao hợp đã xuất tinh. Tảo tiết và dương nuy (liệt dương) có liên quan mật thiết với nhau. Tảo tiết có thể là những dấu hiệu sớm của dương nuy; dương nuy thường do tảo tiết phát triển thành.

Nguyên nhân, bệnh lý và phương pháp chữa trị dương nuy và tảo tiết có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên, những biểu hiện lâm sàng và cách chữa trị cụ thể cũng có những khác biệt.

Phương thang: Đại bổ nguyên tiên gia giảm
– Nhân sâm 16gr
– Hoài sơn 12gr
– Sơn thù du 12gr
– Đỗ trọng 12gr
– Đương quy 16gr
– Cam kỷ tử 16gr
– Kim anh tử 12gr
– Sinh địa 12gr
– Huyền sâm 12gr
– Tri mẫu 16gr
Sắc nước uống trong ngày.

Cũng có thể chỉ cần sử dụng các món ăn – bài thuốc:
1. Cháo Long nhãn táo nhân Khiếm thực:
– Long nhãn 16gr
– Toan táo thân (sao đen) 12gr
– Khiếm thực 12gr

Thêm nước vào nấu thành món cháo, ăn lúc nào tùy thích.
Công dụng: Dưỡng huyết an thần, ích thận cố tinh, chữa tảo tiết.

2. Cháo hoàng kỳ:
– Hoàng kỳ 30g,
– gạo tẻ 50g.
Sắc hoàng kỳ lấy nước (bỏ bã) nấu với gạo thành cháo, ăn điểm tâm vào lúc sáng sớm.

LIỆT DƯƠNG: Triệu chứng suy nhược hay bất lực của bộ phận sinh dục nam. Không những là dấu hiệu của Thận thủy khí suy mà còn là hậu quả của tổng trạng suy nhược.

1. Thận dương hư:
Triệu chứng:
Hoa mắt, thính lực giảm, ra mồ hôi trộm, tay chân bị nóng, khó ngủ, hay đau lưng, mỏi gối, tiểu đêm, hay quên.

Phương thang:
– Hà thủ ô 16gr
– Phục linh 12gr
– Đơn bì 12gr,
– Hoài sơn 12gr
– Sơn thù 12gr
– Nhân sâm 16gr
– Thục địa 16gr.

Đối với những người có huyết áp không ổn định có thể gia thêm:
– Ngưu tất 16gr
– Đỗ trọng 16gr
– Cam kỷ tử 12gr
– Cúc hoa 12gr
Sắc uống

2. Thận âm hư
Triệu chứng:
Rối loạn tiêu hóa, đau lưng, hay lạnh chân và đi đại tiện vào sáng sớm.

Phương thang:
– Ba kích 12gr
– Đỗ trọng bắc 12gr
– Đơn bì 12gr
– Phục linh 16gr
– Cam kỷ tử 16gr
– Nhân sâm 12gr
– Nhục thung dung 12gr
– Dâm dương hoắc 10gr
– Sơn thù 12gr
– Cao ban long 12gr
– Hoài sơn bắc 12gr
– Nhung nai 10gr
– Ích trí nhơn 08gr
– Thục địa 16gr
– Ngũ vị tử 10gr
Sắc uống

Những bài rượu thuốc chữa bệnh liệt dương

Rượu mật ong nhung hươu:
– Nhung hươu 15gr thái mỏng,
– Mật ong 100ml,
– Rượu 250ml.
Ngâm trong vòng 15 ngày
Uống 1 chung nhỏ vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Dùng cho trường hợp liệt dương di tinh, thiếu máu (chóng mặt) đau lưng mỏi gối, sợ lạnh, lạnh tay chân.

Rượu Hoài sơn – nhung hươu:
– Lộc nhung 15gr thái nhỏ
– Hoài sơn 30g thái lát
– Rượu 250ml.
Ngâm trong 15 ngày.
Uống 1 chung nhỏ vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Dùng cho trường hợp liệt dương di tinh tảo

Rượu tắc kè:
– Tắc kè 2 con (bỏ đầu, chân, vảy, nướng qua bằng cồn),
– Rượu 500ml.
Ngâm trong 15 ngày
Mỗi lần uống 1 muỗng ăn canh ngày uống 2 lần trước khi ăn cơm
Dùng cho các trường hợp thận hư di tinh, di niệu, tiểu nhiều lần.

Rượu hải mã:
– Hải mã 30g,
– Rượu 500ml,
Ngâm trong 15 ngày
Mỗi lần uống 1 muỗng ăn canh ngày uống 2 lần trước khi ăn cơm
Dùng cho các trường hợp liệt dương , chấn thương đụng giập, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh.

Rượu Hải cẩu thận – Nhân sâm:
– Hải cẩu thận 1 bộ,
– Nhân sâm 15gr
– Hoài sơn 30g,
– Rượu 1.000ml.
Đun sôi Hải cẩu thận với ít rượu, thái lát;
Cho cả dược liệu vào ngâm trong rượu 15ngày
Mỗi lần uống 1 muỗng ăn canh ngày uống 2 lần trước khi ăn cơm
Dùng cho các trường hợp di tinh liệt dương , thần kinh suy nhược.

Rượu Nhục thung dung:
– Nhục thung dung 30g rửa sạch, thái mỏng,
– Rượu trắng 500ml.
Ngâm trong rượu 15 ngày.
Mỗi lần uống 1 muỗng ăn canh ngày uống 2 lần trước khi ăn cơm
Dùng cho các trường hợp thận hư liệt dương.

Rượu Tỏa dương:
– Tỏa dương 30gr rửa sạch, thái mỏng,
– Rượu 500ml.
Ngâm trong 15 ngày.
Mỗi lần uống 1 muỗng ăn canh ngày uống 2 lần trước khi ăn cơ
Dùng cho các trường hợp thận dương hư di tinh.

Rượu Ba kích – Ngưu tất:
– Ba kích 30gr
– Ngưu tất 30gr
Rượu 500ml.
Ba kích bỏ lõi, thái mỏng, Ngưu tất thái lát.
Ngâm 15 ngày, bỏ bã, uống với nước nóng, mỗi lần 2 muỗng canh
Dùng cho các trường hợp liệt dương; đau lưng mỏi gối, chân yếu run chân.

Thời vua Minh Mạng có một “thể chất tiên thiên”, các ngự y trong triều đã ngày đêm nghiên cứu, bào chế ra bài thuốc có tính năng tráng dương bổ thận cho thiên tử dùng, trong đó nổi tiếng là: “nhất dạ lục giao sinh ngũ tử”.

Theo sử sách, vua Minh Mạng không chỉ nổi tiếng ở tài thao lược, mà còn vang danh hậu thế nhờ có sức khoẻ hơn người. Vua Minh Mạng hoạt động chăn gối về đêm đều đặn nhưng hàng ngày vẫn thiết triều, cưỡi ngựa không biết mệt. Không chỉ có thế, vua thường thức đến tận canh ba để làm việc. Điều đó cho thấy, vua Minh Mạng có một “thể chất tiên thiên” – cường tráng bẩm sinh. Chính sự khỏe mạnh đó đã góp phần không nhỏ vào sự vượng con của vị vua này.

Một số tài liệu cũng cho thấy, hoàng đế Minh Mạng có số lượng con nhiều nhất trong 13 đời vua Nguyễn. Vua có sức khỏe phục vụ tam cung lục viện, một đêm có thể “chiều” đến 5 – 6 cung tần. Ông để lại cho đời 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa…

Bài thuốc Nhất Dạ Lục Giao
Nguyên bản bài thuốc:

Dược vị:
– Sa sâm 20gr
– Tần giao 12g
– Thương truật 12gr
– Cam kỷ tử 16gr
– Độc hoạt 12gr
– Thục địa 28gr
– Đại hồi 08gr
– Bạch truật 12gr
– Bạch thược 12gr
– Tục đoạn 12gr
– Cam thảo 12gr
– Đào nhân 20gr
– Trần Bì 12gr
– Phòng phong 12gr
– Đại táo 12 quả
– Qui đầu 12gr
– Khương hoạt 12gr
– Nhục quế 06gr
– Xuyên khung 16gr
– Mộc qua 08gr
– Bạch linh 12gr
– Đỗ trọng 16gr
– Đường phèn 40g
Sử dụng:
Tất cả được ngâm trong rượu nếp ngon 15ngày
Uống mỗi ngày 3 lần vào bữa cơm và 1 lần vào buổi tối trước khi đi ngủ uống thêm một ly nhỏ nữa, uống liên tục đều đặn hàng tháng mới có tác dụng.

LIỆT ÂM: Phụ nữ Thận thủy khí suy thì huyết trắng nhiều, đau bụng lúc đang hành kinh, lãnh cảm.

Trong y học cổ truyền, lãnh cảm (Liệt âm) thuộc phạm vi các chứng “âm lãnh” và “âm nuy”, được điều trị bằng nhiều biện pháp khác nhau,

Phương thang:
– Nhục thung dung 16gr
– Cam kỷ tử 16gr
– Đương quy 16gr
– Hoàng tinh 16gr
– Gừng tươi 3 lát
– Ba kích 12gr
– Đại hồi 06gr
– Hoài sơn 20gr
– Sắc uóng

Công dụng: Bổ khí dưỡng huyết, kiện tỳ bổ thận, nâng cao khả năng tình dục.

Ngoài việc dùng thuốc chữa Thận thuỷ khí suy gây nên: MỘNG TINH – TẢO TINH – LIỆT DƯƠNG – LIỆT ÂM; Nên thực hiện triệt để ăn 16:8, Hớp không khí, Chườm đá nóng vùng gan, vùng bụng lưới, vùng lưng và lòng bàn chân.
BS Dư Quang Châu
Chủ tịch Chi hội Giáo dục Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng TCLT
Viện trưởng Viện Bấm huyệt TCLT
(Còn tiếp)