Hệ thống KHOÁ trong Bấm huyệt Thập Chỉ Đạo

            Chúng ta có 1 hệ thống như sau:

 

Khớp ở ngón tay Vùng tương ứng
Khớp 3 (to nhất) Khớp vai
Khớp 2 (nhỏ hơn) Khớp khủy
Khớp 1 (nhỏ nhất) Khớp cổ tay và ngón tay.

 

Riêng ngón tay cái ( ngón 1 ) chỉ có 2 khớp thì khớp 3 tương ứng với khớp vai, Khớp 2 tương ứng với khớp khủy, còn điểm sát ngay dưới khớp 2 tương ứng với cổ tay và ngón tay.

           

Theo vị trí tương ứng, ta có:

 

Bộ phận ở cánh tay Vùng tương ứng
Bờ ngoài cánh tay Ngón 4 và 5.
Giữa cánh tay Ngón 3.
Bờ trong cánh tay Ngón 1 và 2.

 

Thí dụ 1: Người bệnh khai đau ở vùng giữa bờ ngoài khớp vai, tương ứng với đường vận hành của ngón tay 4 (Ngũ bội 4), bấm kích thích ở khớp 3 ngón tay 4 ( khớp 3 tương ứng với khớp vai ).

 

Thí dụ 2: Người bệnh khai đau ở bờ trong cùng của khớp khủy tay, tương ứng với đường vận hành của ngón tay 5, bấm kích thích ở khớp 2 ngón tay 5 (khớp 2 tương ứng với khớp khủy).

 

            Thí dụ 3: Người bệnh đau và yếu ở ngón tay thứ 2, tương ứng với Đường vận hành của Ngũ bội 2, bấm kích thích ở khớp 1 ngón tay 2 (khớp 1 tương ứng với khớp ngón tay)…

Cách khóa bấm : Sau khi chẩn đoán và tìm ra điểm để kích thích (bấm ), dùng ngón tay 1 ( cái ) và ngón trỏ ( 2 ) của tay trái, nắm vào điểm giữa của chân móng ( ngón muốn kích thích ), dùng ngón tay cái (của tay phải ) bấm day vào khớp ( 1 , 2 , 3… theo yêu cầu… ). Trường hợp đau nhiều, có thể vừa ấn xuống vừa bật ngang mạnh vào khớp để tăng tác dụng kích thích mạnh hơn.

 

+ Khóa ngón cách thứ II : Đặc điểm của phương pháp này là có thể dẫn truyền luồng kích thích vào phần ‘Khiếu’ của các tạng phủ tương ứng.

Phương pháp này phối hợp cùng lúc với khóa (đè vào) huyệt Nhân tam 1 ( tại chỗ lõm ở ngay giữa nếp gấp mu cổ tay – tương đương huyệt Dương trì ( Tam tiêu 4 của châm cứu ).   

Theo Y lý đông phương ta có:

 

Tạng phủ Vùng khai khiếu tương ứng Đường kinh kích thích
Thận Tai. Ngũ bội 5 (ngón út)
Can Mắt. Ngũ bội 4
Tâm Lưỡi. Ngũ bội 3
Tỳ Môi miệng. Ngũ bội 2
Phế Mũi. Ngũ bội 1 (ngón 1)

 

Khoa

 

+ Thực hiện: dùng ngón cái và trỏ (1 và 2) tay trái nắm vào giữa chân gốc móng ngón tay muốn kích thích rồi dùng ngón cái tay phải day, bấm vào huyệt Nhân tam 1.

            Thí dụ: Muốn dẫn truyền kích thích vào mũi (khiếu của tạng Phế) để trị nghẹt mũi: Khóa gốc móng ngón tay cái (Ngũ bội 1 –   tương đương với Phế ) và bấm Nhân tam 1… Muốn dẫn truyền kích thích lên mắt (khiếu của Can), khóa ngón 4 (áp út) (Ngũ bội 4 – tương đương với Can) và day, bấm Nhân tam 1…

 

+ Khóa ngón cách thứ III: Phương pháp này kết hợp khóa ngón với bấm theo đường kinh.

Thường dùng để tăng cường kích thích ở một vùng nào đó của mỗi đường kinh, nhất là trong trị liệu bại liệt.

Thực hiện: Dùng ngón 1 và 2 tay trái nắm vào phần gốc móng của ngón tay (đường kinh) muốn kích thích, ngón 1 tay phải bấm dọc theo đường kinh đó một khoảng 4 – 5 khoát tay, thường bắt đầu từ cổ tay trở lên.

            Thí dụ: Người bệnh liệt mặt ngoài cẳng tay (mặt ngoài cẳng tay mất cảm giác, tê mỏi…).

Phần liệt liên hệ với đường kinh Ngũ bội 5 tay.

Nắm khoá ở chân móng ngón 5, ngón tay 1 ( tay phải ) bấm từ bờ trên – trong của mỏm trâm trụ (ở cổ tay), theo đường kinh Ngũ bội 5 thẳng lên đến khoảng 1/3 chiều dài của cánh tay.

Ngoài ra, cách bấm này (Khóa ngón + bấm theo đường kinh ) cũng có thể làm cho kinh khí chuyển từ bên này sang bên kia.

            Thí dụ: Muốn chuyển kích thích từ ngón Ngũ bội 5 tay phải sang Ngũ bội 5 tay trái : Khóa ở gốc móng tay 5 bên phải và bấm dọc theo mặt ngoài cẳng tay (đường kinh Ngũ bội 5), kích thích sẽ được chuyển sang ngón tay 5 bên trái…

Tham khảo Bài giảng THẬP CHỈ LIÊN TÂM: