HUYỆT VỊ

            1- Tên huyệt

 

Việc đặt tên huyệt thường dựa vào 2 tiêu chuẩn sau:

. Dễ nhận, dễ nhớ.

. Có ý nghĩa cả về nội dung lẫn hình thức.

Thí dụ: huyệt ở giữa vùng trán, được đặt tên là Ngạch trung (Ngạch: trán, Trung : giữa). Người biết tiếng Hán – Việt khi nói đến chữ Ngạch biết ngay huyệt đó ở vùng trán, còn chữ Trung chỉ để xác định cho rõ hơn vị trí là ở giữa (chứ không phải ở trên hoặc dưới).

Nếu dựa vào những tiêu chuẩn trên, đa số các huyệt được xử dụng trong bấm huyệt Thập chỉ đạo đều chưa đáp ứng được các yêu cầu trên. Tuy nhiên theo nhu cầu trước mắt, chúng tôi cứ tạm ghi lại đúng danh từ tên huyệt đã được bà Huỳnh Thị Lịch hướng dẫn.

           

2- Xác định vị trí huyệt

 

Để xác định vị trí huyệt, có thể dùng 2 cách sau:

Thap Chi Dao Lien Tam Du Quang Chau - huyet vi 1

 

a- Dùng đơn vị ‘Khoát tay’:

+ 1 khoát tay là bề ngang ngón tay cái.

 Thap Chi Dao Lien Tam Du Quang Chau - huyet vi 2

+ Dùng để xác định chiều dài của khoảng cách ngắn: 1-2 khoát…

b- Dựa vào mốc cơ thể: tức là dựa vào các mục tiêu tự nhiên của cơ thể như lông mày, cánh tay, cẳng chân… Thí dụ: huyệt Ấn khôi ở đuôi lông mày bên phải. Huyệt Mạnh chung ở giữa bờ trên xương bả vai.

Vì đây là môn bấm huyệt, phạm vi kích thích của ngón tay tương đối rộng, do đó, việc xác định huyệt không cần thiết phải thật chính xác như trong môn châm, vì vậy nên dựa vào mốc cơ thể để việc lấy huyệt được nhanh và chính xác hơn.

 

3- Phân loại huyệt

 

Hiện nay, tổng số huyệt được hướng dẫn là 143 huyệt, nhưng thực sự xử dụng chỉ có khoảng 80 – 90 huyệt.

Để cho tiện việc tra cứu, chúng tôi đề nghị sắp xếp huyệt vào thành các nhóm:

 

Nhóm 12 Huyệt căn bản: Là nhóm huyệt rất thường xuyên được sử dụng để nâng cao sức khỏe, làm bớt mệt… (chi tiết các huyệt này xin xem ở mục Huyệt Vị).

 

Nhóm huyệt Cấp cứu hồi sinh: Chí đắc, Định tử, Hồi sinh thân thể, Thiên lâu, Trụ cột hồi sinh, Tứ thế… thường được dùng trong các trường hợp ngất, cơ thể quá yếu mệt…

 

Nhóm huyệt Giải: Dùng để giải các kích thích gây ra do bấm huyệt, tùy theo vùng sẽ có huyệt giải riêng…

Thí dụ: Khi bấm một số huyệt ở tay bên trái, sau đó tay bên trái bị mỏi, tê… bấm các huyệt Ấn lâm, Vũ hải, Nhị tuế (vùng lông mày bên phải) để giải, sẽ thấy hết tê mỏi…

 

Huyệt Bấm Tác Dụng Giải
Cao thống, Chí cao, Trụ cột hồi sinh. Toàn thân.
Chí đắc. Vùng vai, lưng.
Chú thế. Vùng bụng.
Tam huyền. 2 bên đầu.
Tư thế. Vùng ngực.
Án khôi, Cốt cường, Mạnh không. Tay bên Phải.
Ấn lâm, Nhị tuế, Vũ hải. Tay bên Trái.

 

Nhóm huyệt có tác dụng dẫn máu: bấm vào các huyệt này có tác dụng làm dẫn máu đến vùng yêu cầu:

 

Huyệt Bấm Dẫn Máu Đến Vùng
Khóa huyệt Cao thống hoặc Chí cao, bấm bất cứu huyệt nào. Dẫn máu mạnh đến vùng đó.
Ấn tinh, Hoàng ngưu. Lên mặt
Nhật bách Lên đầu
Ấn suốt, Tứ thế, Dương hữu, Khô lạc 2. Xuống tay
Chí ngư Vào gan
Tả trạch dưới Từ gối xuống chân.
Bí huyền 7, 8, Đắc quan. Xuống chân
Đắc quan á

Đắc quan â

Háng, đầu gối,

Cổ chân, bàn chân.

Khóa Khô khốc 3 + Định tử Háng,
Khóa Khô khốc 2 + Định tử Đầu gối,
Khóa Khô khốc 1 + Định tử Cổ chân, bàn chân.

 

+ Nhóm huyệt dãn gân cơ: Có tác dụng làm cho gân cơ được dãn ra, bớt co cứng , dùng trong các trường hợp bong gân, liệt thể cứng…

 

Huyệt Bấm Làm Dãn Cơ Vùng
Khô minh, Kim quy, Thốn ô, Xích tuế Chân.
Khiên lâu, Khôi lâu Tay.
Tam phi Bụng.

 

Cũng có thể xếp theo các hệ như hô hấp, tim mạch, bài tiết, thần kinh… việc này đòi hỏi nhiều nghiên cứu kỹ có sự phối hợp với YHHĐ trên lâm sàng. Tạm thời chúng tôi nêu ra một số kinh nghiệm như sau:

 

Huyệt Bấm Tác Động Đến
Ấn khô, Mạch lạc, Mạnh đới. Hô hấp.
Chí thế, Tứ thế. Tim mạch.
Mạnh quan, Cung khôn, Ngũ thốn 2, Nhâm tuế, Tả hậu môn. Bài tiết (tiêu, tiểu).

 

Thổ quang, Ngư hàn, Tam tuyền, Tuyết ngư. Tâm thần (mất ngủ).
Chí thế. Thần kinh.
Khô thốn, Mạnh túc, Tinh ngheo, Vị thốn, Vị trường điểm. Tiêu hóa.

 

Ấn suốt, Chí ngư, Đô kinh, Khôi thế, Khu trung, Lưỡng tuyền, Mạnh chung, Mạnh lực, Thái lâu, Trạch đoán. Thần kinh vận động tay.
Định tử, Khiên thế, Khô lân, Khô thốn, Khu phong, Khư hợp, Mạnh công, Mộc đoán, Ngưu tuyền, Nhị môn, Tả trạch, Tam phi, Tân khương, Túc lý.  

Thần kinh vận động chân.

 

Trong tài liệu này chúng tôi sắp xếp huyệt vị theo từng vùng: Đầu – mặt – cổ, Vai – lưng, Bụng, Tay chân. Mỗi vùng lại được sắp xếp theo thứ tự A, B, C… cho dễ tra cứu.

Ở mỗi huyệt vị, ngoài vị trí đã chỉ định, chúng tôi còn nêu thêm phần giải phẫu cơ thể. Hiểu rõ được sự liên hệ của vị trí huyệt đó với cấu tạo da, thần kinh, tiết đoạn thần kinh tương ứng sẽ giúp nhiều trong việc giải thích hoặc chọn huyệt trong việc điều trị.

Thí dụ: Trong điều trị chứng bí tiểu cơ năng, theo kinh nghiệm đã được hướng dẫn, có xử dụng huyệt Mạnh qua như là một huyệt đặc hiệu. Thế nhưng, nếu xét về mặt giải phẫu, huyệt Mạnh qua chịu sự chi phối của tiết đoạn thần kinh L3, trong khi đó, vùng bàng quang (vùng đang có sự rối loạn bệnh lý) cũng chịu sự chi phối của tiết đoạn thần kinh L3. Kích thích của huyệt Mạnh qua cũng có thể gây tác dụng đến bàng quang… và có tác dụng trị liệu theo tiết đoạn thần kinh… Rất nhiều huyệt khác, từ trước vẫn xử dụng theo kinh nghiệm nhưng nếu biết thêm về giải phẫu học sẽ có thể có ích lợi để hiểu rõ hơn về huyệt đó.

Ngoài ra, trong một số trường hợp có thể, chúng tôi nêu ra sự tương ứng giữa huyệt đó với huyệt của châm cứu để những người học châm cứu biết rõ hơn vị trí của huyệt đó (theo mô tả của châm cứu), đồng thời có thể biết thêm những tác dụng của huyệt đó đã được dùng trong châm cứu nhưng chưa có trong môn bấm Thập chỉ đạo.

Trong điều trị bấm huyệt ‘Thập chỉ đạo’, thủ pháp bấm từng huyệt góp phần không nhỏ trong việc đạt hiệu quả hay không, vì vậy, ở từng huyệt, chúng tôi nêu luôn cách phối hợp, thủ pháp bấm riêng cho từng huyệt…

Tham khảo Bài giảng THẬP CHỈ LIÊN TÂM: