Tác dụng của KHÓA trong Bấm huyệt Thập Chỉ Đạo

 

Đây là một trong những nét đặc sắc của phương pháp bấm huyệt Thập chỉ đạo, đồng thời là chìa khoá để có thể áp dụng thành công một số thủ pháp kích thích khi bấm huyệt.

 

Dựa vào thực tế lâm sàng chúng tôi nhận thấy KHÓA có 5 tác dụng sau:

 

a- Định hướng: Một tác động kích thích đang thực hiện ở một đường kinh nào đó, nếu kèm khóa, sẽ có thể bị chuyển hướng đến nơi khác theo yêu cầu điều trị.

            Thí dụ: Bình thường, nếu chỉ kích thích (không khóa) vào đường kinh Ngũ bội 1 tay, luồng kích thích có thể chuyển sang Ngũ bội tay đối xứng hoặc chuyển xuống Ngũ bội 1 chân, nhưng nếu kết hợp khóa Hổ khẩu, đường dẫn truyền sẽ dẫn vào vùng ngực, vào tạng Phế.

            Khi bấm các huyệt ở chân, nếu khóa Khô khốc 1, luồng kích thích chỉ lưu chuyển ở tại chân đang được kích thích, nhưng nếu khóa Khô khốc 2 thì kích thích sẽ được dẫn truyền qua chân đối bên; Nếu khóa Khô khốc 3, đường dẫn truyền sẽ dẫn lên phần trên của cơ thể…

            b- Tăng kích thích: Khi bấm kết hợp với Khóa cùng một lúc, kích thích đó sẽ được gia tăng nhiều hơn và mạnh hơn. Nhiều trường hợp bấm điều trị bướu cổ, khi khóa Khô khốc 3 + bấm huyệt Án dư, bệnh nhân cảm thấy vùng cổ (chỗ tuyến giáp) nóng lên so với không khóa.

c- Hãm: Đôi khi có những kích thích mà nếu để bình thường, có thể tác động mạnh đến những vùng quan yếu của cơ thể như tim, đầu… vì thế, phải dùng Khóa để làm dịu (hãm) bớt các kích thích đó, tránh gây tổn hại cho vùng chịu kích thích.

Thí dụ: Để đưa các kích thích lên mắt, đầu… nên xử dụng khóa Khô khốc 3 để hãm bớt kích thích mạnh của việc bấm gây ra.

Ở tay, khi kết hợp Khóa Nhân tam sẽ làm giảm bớt kích thích đến nơi đang cần kích thích. Thí dụ: Trong thủ pháp ‘ổn định tim mạch’, khóa Hổ khẩu + khóa Nhân tam 1 đồng thời bật Ngũ bội 5, sẽ làm cho đường dẫn truyền đi lên bị giảm bớt hoặc luồng dẫn truyền sẽ đi vào từ từ, tránh gây khó chịu cho bệnh nhân…

            d-         Chuyển tiếp: Một kích thích, nếu vì một lý do nào đó chưa đủ sức để chuyển đến đúng vùng yêu cầu, có thể bấm kích thích ở ngay Khóa nào gần vị trí đang kích thích, luồng dẫn truyền đó sẽ đi lên với một lực mạnh hơn.

Thí dụ: người bệnh đau mặt trong khớp vai, chỉ định bấm kích thích ở đường kinh Ngũ bội 1 tay, nhưng kích thích (luồng khí chuyển) chỉ có thể lên được đến khớp khủy… không lên tiếp được đến vai. Trường hợp này, nên day bấm vào Khóa Hổ khẩu (thẳng ngón tay 1 lên) sẽ có thể giúp đẩy tiếp được luồng kích thích đi lên vai (nơi đang cần kích thích).

            e-         Theo dõi tác động của kích thích: Khi thực hiện một kích thích, có khi kích thích đó quá yếu, chưa đủ sức gây ra hiệu quả, nhưng cũng có khi lại quá mạnh, có thể gây ảnh hưởng tai hại đến vùng bị kích thích… Trong trường hợp này, có thể và nên đặt tay vào vùng Khóa ở cùng bên hoặc liên hệ với vùng đang có kích thích, sẽ có thể biết rõ thủ pháp kích thích đó như thế nào.

Thí dụ: Bình thường đặt tay vào Khóa Hổ khẩu, thấy hơi có mạch đập nhẹ dưới ngón tay, khi kích thích ở vùng vai trong (cùng hướng với khóa Hổ khẩu), thấy mạch ở Khóa Hổ khẩu tăng lên (đập hơi mạnh hơn) nghĩa là kích thích có đáp ứng, ngược lại, thấy mạch đập còn yếu hơn lúc chưa kích thích là thủ pháp bấm chưa đạt… cần điều chỉnh lại kích thích đưa vào…

Ở chân cũng vậy, giả sử bệnh nhân bị liệt bàn chân, cần dẫn máu xuống bàn chân, khóa Khô khốc 1 + ấn day huyệt Định tử. Để biết máu có dẫn xuống bàn chân hay không, trước khi day bấm, để ngón tay cái đè vào huyệt Xung dương (mạch máu ở mu bàn chân), xem mạch đập thế nào (nhỏ, yếu), sau khi bấm dẫn máu, lại đè vào huyệt này thấy mạch máu đập mạnh và có lực hơn) chứng tỏ thao tác chúng ta làm đúng và máu có dẫn xuống (mạch đập mạnh hơn…).

 Tham khảo Bài giảng THẬP CHỈ LIÊN TÂM: