Tiến trình bấm huyệt Thập Chỉ Đạo

Thap Chi Dao Lien Tam Du Quang Chau - tien trinh bam huyet 2

Sau nhiều nghiên cứu và theo dõi, chúng tôi tạm đề ra tiến trình điều trị bằng bấm huyệt như sau:

 

            1- Kiểm tra mạch

Nhằm mục đích biết được trạng thái mạnh – yếu, hư – thực của thể trạng và bệnh lý của người bệnh để biết được mức độ kích thích cần thiết. Việc kiểm tra mạch này khác hẳn với việc ‘xem mạch – bắt mạch’ của các thầy thuốc YHCT (môn bấm huyệt này, không cần phải tìm hiểu bộ vị mạch tương ứng với cơ quan tạng phủ bên trong, mà chỉ cần chú ý đến lực mạch hay nói cách khác là cường độ mạnh hay yếu của mạch để có hướng xử lý thích hợp (Bấm kích thích mạnh, nếu mạch của bệnh nhân còn khoẻ, thực. Hoặc phải bấm nhẹ, vừa đủ với những bệnh nhân đang có loại mạch suy yếu – hư…)

Thap Chi Dao Lien Tam Du Quang Chau - tien trinh bam huyet 1

– Thực hiện: đặt 3 ngón tay (2, 3, 4) lên vùng động mạch tay quay (xem hình trên), đồng thời theo dõi mạch đập:

– Mạch đập nhanh: trạng thái nhiệt (nóng).

– Mạch đập chậm: trạng thái hàn (lạnh).

Phân biệt được 2 loại mạch này sẽ giúp nhiều trong việc điều trị chứng suyễn (suyễn nóng – suyễn lạnh).

– Mạch đập mạnh, có lực: thực chứng.

– Mạch đập yếu, không lực: hư chứng.

Phân biệt được 2 loại mạch này sẽ giúp điều chỉnh được lực hoặc cường độ cần kích thích.

Ngoài ra, cần lưu ý đến nguyên tắc sau: Bên yếu (mạch yếu, không lực) nên bấm sau, còn bên mạnh (mạch có lực, mạnh) nên bấm trước để chuyển khí lực sang hỗ trợ cho bên yếu, lấy mạnh giúp yếu…

           

2- Khai thông

Nhằm mục đích làm cho kinh lạc và các huyệt đạo được mở (khai) ra và lưu thông (thông) giúp cho kinh khí và các luồng dẫn truyền (kích thích) do bấm huyệt tạo ra được lưu chuyển tốt đến những nơi bị bệnh.

Thực hiện: Dùng ngón tay trỏ để phía dưới, ngón tay cái để phía trên ngón tay muốn khai thông (Lưu ý: cách để tay này là sự phối hợp giữa âm (dưới) và dương (trên), tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng trong quân bình âm dương. Nếu không để tay (khóa) mặt dưới (âm) thì luồng kích thích ở trên (dương), không có gì kềm chế sẽ chạy lộn xộn, không đúng như yêu cầu của người thày thuốc).

Vị trí để khai thông thường là lóng mu tay, giữa khớp 1 và 2 của mỗi lóng (Dù các lóng khác, khi kích thích vẫn tạo được luồng dẫn truyền nhưng không mạnh bằng tại lóng 1 và 2).

Dùng ngón tay cái đẩy nhẹ nhàng và từ từ theo hướng từ dưới lên (từ ngón tay vào mu bàn tay).

Ngoài ra, khi day đẩy, cần làm đều đặn, không nên day theo kiểu giật cục (vì nơi những bệnh nhân nhạy cảm, họ cho biết là khi kích thích như vậy, có cái gì nhồi nhồi, ngăn ngắt… làm cho họ cảm thấy rất khó chịu, vì kinh khí chuyển vận không đều trong cơ thể của họ).

Thường kích thích từ phía ngoài vào trong: tức là, day ấn kích thích ở ngón 5 (ngón út) trước, rồi đến ngón 4, 3, 2 và 1…

Động tác này nhằm đưa khí lực vào cơ thể thông qua các đường kinh lạc.

Ghi chú: Khi thực hiện động tác này, lưu ý là chỉ đẩy lên chứ không kéo xuống – động tác kéo xuống khi kích thích chỉ là hờ, nhẹ không đáng kể; Nếu không, vừa đẩy lên, đẩy xuống thì kích thích đưa vào coi như không có, vì động tác đẩy vào là đưa kinh khí vào, còn kéo xuống là đưa kinh khí ra. Ngược lại, nếu động tác đẩy lên nhẹ mà kéo xuống mạnh sẽ làm kinh khí thoát ra và bệnh nhân có thể mệt, xỉu).

Trong một số trường hợp, có thể kích thích (day đẩy lên) ở tại ngay giữa khớp 1 hoặc 2 để tăng thêm hiệu quả kích thích.

Việc khai thông nhiều hoặc ít tùy thuộc tình trạng sức khỏe của người bệnh.

. Đối với những người bệnh già yếu, người từ xa đến, cơ thể còn mệt mỏi… người bệnh phải nằm lâu ngày… nên bấm các huyệt căn bản, huyệt hồi sức (sinh) trước, để:

+ Tạo cho người bệnh một sự dễ chịu, tăng thêm niềm tin lúc ban đầu.

+ Tăng thêm thể lực để chuẩn bị bấm mạnh các huyệt trị bệnh.

 

3- Bấm trị bệnh:

 

Khi điều trị bệnh, cần chú ý mấy điểm sau:

  1. a) Chẩn đoán bệnh hay là xác định bệnh: Chủ yếu dựa vào sự rối loạn kinh khí của 10 đường kinh (xem chi tiết nơi 10 đường kinh) để tìm ra bệnh lý, từ đó mới có hướng xử lý thích hợp.

Nguyên tắc chung của việc bấm trị là ‘Thông tắc bất thống, thống tắc bất thông’ (Lưu thông thì không đau – đau là do không lưu thông).

Thí dụ:

  1. Bệnh nhân khai đau mé ngoài – sau vai: Dựa theo đường vận hành của các đường kinh, thấy đường kinh Ngũ bội 5 tay vận hành qua vùng bệnh. Chẩn đoán là đường kinh Ngũ bội 5 tay bị rối loạn. Cách điều trị là khai thông kinh khí đường kinh Ngũ bội 5 tay.

 

  1. b) Chọn huyệt cục bộ và huyệt gần vùng bệnh (lân cận) để sơ thông kinh khí tại chỗ, kinh khí lưu thông sẽ bớt và hết đau.

Thí dụ: Vùng sau vai đau, có thể kết hợp bấm thêm các huyệt quanh vùng vai đau: Tư thế, Khôi thế 1 (Mạnh chung), Án suốt, Khôi lâu…

 

  1. c) Chọn huyệt theo lý luận biện chứng (y lý): Nếu biết thêm về y lý, sẽ giúp chẩn đoán và chọn huyệt phối hợp chính xác và hiệu quả hơn.

Thí dụ: Mắt sưng đau, nóng đỏ, nhức khó chịu.

Nếu biết y lý đông y, sẽ có thể biết mắt có liên hệ với tạng Can (Can khai khiếu ở mắt), sưng nóng đỏ đau là hỏa hoặc nhiệt vượng. Điều trị: Chọn đường kinh Ngũ bội 4, nhưng bấm Tam tinh (để ức chế hỏa, nhiệt không cho bốc thêm nữa)…

  1. d) Sử dụng các huyệt đặc hiệu (dựa theo kinh nghiệm của những thày thuốc đi trước… truyền đạt lại). Thí dụ: Huyệt Khiên lâu là huyệt đặc hiệu trị bong gân vùng tay; Thốn ô là huyệt đặc hiệu trị bong gân vùng bàn chân; Muốn phục hồi sinh lực nhanh: dùng các huyệt nhóm Hồi sinh…

 

  1. f) Thủ pháp bấm huyệt

Thủ pháp bấm từng huyệt, cách để tay bấm… cũng ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả điều trị. Vì vậy, cần quan tâm đến những kinh nghiệm điều trị của các thày thuốc đi trước.

 

Trong lúc điều trị, mỗi huyệt lại cần thủ pháp bấm khác nhau:

– Có huyệt cần điểm nhẹ như Mạnh quan, Thiên lâu…

– Có huyệt phải xử dụng cách vuốt: Mạch lạc, Mạch tiết…

– Có huyệt phải bóp: Tứ thế…

– Có huyệt phải vừa bóp vừa bật: Ấn khô…

– Có huyệt phải bấm chung với các huyệt khác: Chí thế, Bạch lâu, Khương thế, Tam tuyền, Tuyết ngư…

– Có huyệt khi bấm phải mượn sức khóa của huyệt khác mới đạt hiệu quả cao: Khóa Khu trung (hoặc Khu chè) cộng với bấm Khô lân mới có tác dụng làm nhấc chân lên. Nhưng ngược lại nếu khóa Khô lân mà bấm Khu trung hoặc Khu chè thì chỉ làm nâng được đầu gối chân mà thôi…

– Có huyệt chỉ được day – đẩy : Chí đắc…

Như vậy, để bấm đạt hiệu quả cao, ngoài việc biết chính xác thủ pháp dành cho mỗi huyệt còn phải biết kết hợp hài hòa với các loại khóa, huyệt khóa…

(Chi tiết về thủ pháp bấm từng huyệt được trình bày tỉ mỉ trong phần huyệt vị).

Phải luyện tập và thực hành nhiều trên lâm sàng mới có thể nắm vững được các cách bấm và bấm – khóa, và hiệu quả trị liệu mới cao.

Ghi chú: Vừa bấm vừa nên theo dõi sắc mặt, phản ứng của mạch đập… để biết điều chỉnh cường độ và trường độ của kích thích bấm huyệt.

           

4- Thời gian bấm huyệt

 

– Có thể bấm bất cứ lúc nào khi thuận tiện (cho cả thày thuốc lẫn bệnh nhân), ở bất cứ chỗ nào (vì không cần dụng cụ gì khác ngoài đôi bàn tay của thày thuốc).

– Tuy nhiên, khi dùng huyệt Khô khốc để phối hợp trị bệnh, theo kinh nghiệm của người sáng lập thì cần lưu ý đến thời gian đang điều trị mà chọn dùng huyệt khóa.

 

Khóa Thời gian áp dụng
Khô khốc 1 5 – 7 giờ.
Khô khốc 2 7 – 9 giờ.
Khô khốc 3 9 giờ trở lên.

 

Đây là kinh nghiệm của những người đi trước, khi thực hiện, cần lưu ý hơn.

– Mỗi huyệt không nên bấm lâu quá 30 giây đồng hồ, vì theo các nhà nghiên cứu khoa học về hệ thần kinh cho biết: chỉ cần 7 giây là đủ đưa xung động lên não và não đáp ứng. Nơi những người bệnh mạn tính, yếu liệt, có thể phải cần kích thích lâu hơn so với người khác, nhưng cũng không nên quá 30 giây cho mỗi huyệt.

Liệu trình dành cho người bại liệt đòi hỏi thời gian điều trị khá dài, nên sắp xếp để bấm dần từng bước cho đến khi khỏi, không nên cố dồn vào một thời gian bấm quá nhiều huyệt, nhiều vùng… vì sẽ có thể ảnh hưởng xấu đến việc trị liệu.

           

5- Chỉ định và chống chỉ định

 

a- Chỉ định:

 

Cách chung, phương pháp bấm Thập chỉ đạo có thể xử dụng để chữa được rất nhiều bệnh, nhưng đặc biệt có hiệu quả cao đối vào một số bệnh chứng sau:

– Di chứng não: tai biến mạch máu não, bại liệt…

– Bệnh chứng hệ vận động: liệt nửa người, bong gân, cụp lưng…

– Bệnh động kinh (cắt cơn tốt), Huyết áp cao (hạ áp khá tốt), Suyễn (hạ được cơn suyễn)…

Một số bệnh chứng khác đang được chú tâm nghiên cứu sâu hơn (dù lâm sàng đã có 1 số kết quả tốt): Bướu cổ, Tử cung sa xuống, Câm điếc…

 

b- Chống chỉ định: Không nên bấm đối với:

 

– Bệnh tim (khi không rõ nguyên nhân) vì dễ gây biến chứng nguy hiểm (mệt, ngất xỉu).

– Các bệnh ngoài da: phong cùi, ghẻ lở… vì dễ bị lây nhiễm.

– Phụ nữ đang có thai và sau khi sinh dưới 4 tháng.

– Đang no hoặc đói quá.

– Huyết áp quá thấp.

– Thường dễ ngất xỉu, hồi hộp, xúc động…

 

6- Tai biến và cách xử trí tai biến

 

Đôi khi, vì phản ứng của cơ thể quá mạnh hoặc quá nhậy, có thể gây ra hiện tượng kích ngất: Người bệnh thấy chóng mặt hoặc trong người thấy khó chịu, sắc mặt nhợt nhạt, tay chân lạnh, mạch nhẹ (trụy mạch), huyết áp tụt xuống thấp…

Cách xử trí:

– Ngưng ngay các động tác đang làm.

– Đặt người bệnh nằm xuống nơi (chỗ) thoáng mát.

– Nới rộng các vật (dây lưng, nịt ngực…) có thể gây cản trở tuần hoàn (lưu thông máu).

– Bấm các huyệt: Chí đắc, Chí thế (1,2 và 4,5), 12 huyệt Căn bản, các huyệt Hồi sinh…

– Cho uống 1 ít nước trà ấm, nóng.

Tham khảo Bài giảng THẬP CHỈ LIÊN TÂM: